Sở Tư pháp quán triệt về chứng thực hợp đồng mua, bán xe

Qua công tác kiểm tra thực hiện chứng thực tại các địa phương và trên cơ sở phản ánh của Phòng Cảnh sát giao thông thành phố Đà Nẵng, nhận thấy có tình trạng một số UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh không thực hiện đúng trình tự, thủ tục khi chứng thực hợp đồng mua, bán xe đã qua sử dụng theo quy định tại Nghị định số 23/2015/NĐ-CP và Thông tư số 01/2020/TT-BTP, cụ thể:

- Nhiều trường hợp có dấu hiệu sử dụng chữ ký giả, do chữ ký, chữ viết của bên mua trong Hợp đồng mua bán xe đã được chứng thực không trùng khớp với chữ ký, chữ viết của chủ xe trong Tờ khai đăng ký xe tại các cơ quan Công an có thẩm quyền.

- Hợp đồng có từ hai trang trở lên không đánh số trang, người tiếp nhận hồ sơ không ký vào từng trang của hợp đồng, người tiếp nhận hồ sơ sử dụng nhiều màu mực ký trên hợp đồng và lời chứng (vừa mực nước và mực bút bi).

- Các hợp đồng mua, bán xe được chứng thực không thể hiện rõ chủ sở hữu là cá nhân hay là vợ chồng, hầu hết chỉ có tên của người đứng tên sở hữu trong Giấy chứng nhận đăng ký xe, không xác định được quyền nhân thân gắn với tài sản, từ đó đã dẫn đến nhiều trường hợp khiếu kiện, tranh chấp tài sản.

Để kịp thời chấn chỉnh tình trạng vi phạm về trình tự, thủ tục chứng thực nói trên. Đảm bảo việc chứng thực hợp đồng mua, bán xe theo đúng quy định của pháp luật, nhằm tạo độ tin cậy pháp lý đối với hợp đồng đã được chứng thực, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hợp đồng, Sở Tư pháp đã có Công văn quán triệt về chứng thực hợp đồng mua, bán xe (Công văn số 1568/STP-HCTP ngày 25/7/2022), theo đó yêu cầu các Phòng Tư pháp và UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh thực hiện nghiêm túc các nội dung sau:

(1) Chỉ đạo công chức tiếp nhận hồ sơ chứng thực nêu cao tinh thần trách nhiệm, đảm bảo chỉ tiếp nhận hồ sơ và tham mưu thực hiện đúng trình tự, thủ tục chứng thực hợp đồng theo quy định tại Điều 36, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP và Điều 20, Thông tư số 01/2020/TT-BTP. Trong đó đặc biệt lưu ý người tiếp nhận hồ sơ/người thực hiện chứng thực phải yêu cầu các bên tham gia hợp đồng ký trước mặt mình (Trừ trường hợp người có thẩm quyền giao kết hợp đồng của các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp đã đăng ký chữ ký mẫu tại cơ quan thực hiện chứng thực).

(2) Để đảm bảo không trái quy định tại khoản 2 Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khi chứng thực hợp đồng mua bán xe đã qua sử dụng, người tiếp nhận hồ sơ/người thực hiện chứng thực cần đề nghị người yêu cầu chứng thực xác định, ghi rõ trong hợp đồng việc xe (ô tô, mô tô, xe máy…) được bán là tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng; trường hợp xe là tài sản chung của vợ chồng thì đề nghị người yêu cầu chứng thực ghi đầy đủ thông tin trong phần bên bán xe, có đủ chữ ký của cả hai vợ chồng và kiểm tra thông tin trong hồ sơ yêu cầu chứng thực; không đề nghị người yêu cầu chứng thực nộp thêm bất cứ giấy tờ nào khác ngoài những giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 36 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.

Trên đây là các nội dung lưu ý, quán triệt của Sở Tư pháp đến các cơ quan thực hiện chứng thực trên địa bàn tỉnh khi thực hiện chứng thực hợp đồng mua, bán xe.

Tin liên quan